Cuộc đời
Thầy Thích Huyền Diệu

( Lược dẫn từ cuốn sách " Lòng tri ân và sự mầu nhiệm" -  Thầy Huyền Diệu)

LỚP HỌC ĐẦU TIÊN THỜI THƠ ẤU

Tôi sanh ra và lớn lên trong thời kỳ chiến tranh ở một vùng nông thôn Việt Nam, không được may mắn cắp sách đến trường như các bạn trẻ ở tỉnh thành hay ở những nơi có an ninh. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, tôi được đưa về ở tạm nơi nhà bà ngoại. Người thầy đầu tiên dạy tôi học chữ là một ông thầy giáo làng.

Cuộc chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ dữ dội, thế là tôi lại theo ba má đi chạy giặc mai nơi này mốt nơi khác. Chiến tranh mỗi ngày mỗi lan rộng, dân chúng chạy loạn càng lúc càng đông, tôi không bao giờ quên được những cảnh khổ cực, nghèo đói, sợ hãi của nhiều người xung quanh. Có những cảnh người bị chết đói, bị thương nằm dọc đường tôi vẫn còn nhớ rất rõ. Khi hiệp định Geneve được ký kết, hoà bình tạm vãn hồi, đất nước bị chia đôi, tôi lại may mắn được cắp sách đến trường.

TÔI CỐ GẮNG HỌC VÌ THƯƠNG MẸ

Gia đình tôi thuộc hạng tầm thường trong một xã hội đây biến đổi, một đất nước bị chiến tranh triền miên. Tôi nhớ rất rõ là ba má tôi làm lụng vất vả mới đủ cơm ăn áo mặc không có dư giả gì nhiều. Ba má tôi thường nói với tôi:“ Con có thương và nhớ ơn ba má thì cố gắng học cho giỏi”. Câu này ba má tôi lặp đi lặp lại rất nhiều lần và nó như một câu thần chú dính vào tâm tư tôi không biết lúc nào. Và ngày nào tôi cũng lặp đi lặp lại “Nếu biết thương ba má thì cố gắng học cho giỏi”.

Tôi vốn là một đứa bé rất tầm thường, chỉ số thông minh thuộc vào loại thấp, trí nhớ khá yếu, có lẽ vì tôi bị nhiều chứng bệnh nan y ngay từ nhỏ. Vì tôi bị bệnh suyễn và nhiều bệnh khác nên khả năng học và nhớ rất bị giới hạn! Tuy thua kém nhiều mặt so với các bạn cùng lớp nhưng tôi luôn luôn cố gắng học để tri ân ba má tôi. Mỗi khi nhận được bằng khen, tôi đem về nhà khoe, ba má tôi mừng, tôi coi đó như một sự đền ơn ba má, tri ân công sanh thành và nuôi tôi khôn lớn.

 

Chiến tranh tàn khốc đưa cuộc sống người dân càng thêm khốn cùng

Lúc tôi còn quá nhỏ để biết tại sao thì ba má tôi đã chia tay nhau, đây là tai họa lớn cho cuộc đời tôi. Nghèo đói là khổ, nhưng chia lìa oán hận lại càng khổ hơn. Tôi thì ba cũng thương mà má cũng thương, nhưng hai người vì lí do gì đó chia tay lúc nào tôi cũng không hay biết. Tôi là con trai duy nhất trong gia đình và là một nạn nhân khổ đau nhất. Vì khi ở với má mà nhớ và nhắc đến tên ba thì bị những trận đòn rất nặng... Viết đến đây lòng tôi rất đau buồn, trái tim se thắt lại khi nghĩ đến trên trái đất này có hàng trăm ngàn trẻ em chẳng may bị hoàn cảnh cha mẹ không giải quyết được bất đồng và phải chia tay trong đau khổ ngang trái, hận thù, không tha thứ cho nhau được, thế là khổ đau lại đổ lên con cháu. Tôi mong mỏi và thành tâm kêu gọi quý ông quý bà hay quý anh chị khi đã gặp nhau rồi yêu thương nhau sanh con cháu, nếu vì hoàn cảnh nào đó đưa tới sự bất đồng thì cố gắng giải quyết nhân nhượng lẫn nhau mà tiếp tục sống cuộc đời hạnh phúc trên trần gian này để cho con cháu được nhờ. Nếu rủi cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không thành, thì cố gắng thu xếp chia tay với nhau sao cho thật an lạc, không hận thù mà vẫn giữ được tình bạn, tình người. Nếu làm được như vậy sẽ giúp những đứa trẻ vững tâm yêu đời và sống hạnh phúc như bao nhiêu trẻ thơ khác.  

Con đường đến trường

Trong ký ức của tôi, con đường đi học được băng qua những hàng dừa, hàng cau và ruộng lúa hương thơm ngào ngạt là những kỷ niệm êm đểm nơi làng quê Việt Nam xưa khó quên. Những cảnh êm đềm và hoà bình an lạc nơi thôn quê Việt Nam đã ảnh hưởng lớn đến cá tánh và đời sống của tôi, mang đến cho tôi hoà bình và an lạc trong cuộc sống.

Ở với má tuổi thơ tôi chất chồng là những trận đòn roi. Trong đầu tôi hiện lên ý nghĩ mình phải ra đi, ra đi... đi để tránh những trận đòn đau đớn. Ý nghĩ bỏ nhà ra đi đến với tôi khá nhiều tháng, nhưng tôi chưa biết sẽ đi về đâu, cư trú nơi nào, cơm đâu mà ăn…

Ngay từ lúc nhỏ tôi đã có niềm tin rất lớn vào lòng từ của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Mỗi khi gặp điều gì khó khăn tôi thường trì niệm danh hiệu Ngài: Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Cuối cùng tôi quyết định cứ ra đi, và tất cả trông cậy vào Đức Bồ Tát Quán Thế Âm dẫn đường chỉ lối. Nhiều ngày trước khi ra đi tôi đem những hình Phật, ông Tiên bà Tiên mà tôi đã sưu tập từ bao nhang hay sách báo ra bờ sông để một chỗ gần cây lớn khi không có ai, rồi bái lạy và niệm danh hiệu Phật và Bồ Tát Quán Thế Âm, cầu nguyện chuyến đi trốn khỏi nhà thành công tốt đẹp. Tôi rời khỏi nhà chỉ vỏn vẹn có một bộ đồ trên mình, không có một đồng tiền cắc bạc. Đi khỏi nhà rồi mới thấy sự đói khổ và cô đơn...

 

PHƯỚC ĐỨC VÀ MAY MẮN GẶP ĐƯỢC CHÂN SƯ

Tới bắc Mỹ Tho - đây là chiếc bắc đưa xe và khách qua khúc sông Cửu Long chia cách Mỹ Tho (nay là thị xã của tỉnh Tiền Giang) và tỉnh Bến Tre, khi tôi vừa qua cầu để xuống bắc thì gặp một vị Thầy mặc áo màu nâu. Thầy kêu tên tôi thật lớn. Tôi rất ngạc nhiên vì tôi chưa bao giờ biết Thầy, chưa bao giờ gặp Thầy mà sao Thầy biết tên tôi. Thấy nói Thầy đợi tôi ở đây ba ngày rồi, Thầy kêu tôi đi theo Thầy về chùa ở vùng Bảy Núi Thất Sơn. Ngạc nhiên và bị thu hút một cách huyền bí, tôi đã đi theo Thầy một cách lạ thường, như thể Thầy là người trong gia đình mà tôi đã thân đã kính quý từ lâu. Sau này tôi biết Thầy Hoằng Nhơn là người chứng đắc nhiều phép lạ, nên Thầy biết rất nhiều huyền cơ vũ trụ và biết rất rõ số mạng từng người.

Tôi vô cùng may mắn được Thầy độ và chỉ rõ con đường để đi tới thành công và hạnh phúc trong cuộc đời này. Nếu tôi không may mắn gặp Thầy Hoằng Nhơn thì chắc chắn cuộc đời của tôi sẽ không được như ngày hôm nay.

NHỜ TRI ÂN SƯ PHỤ MÀ TRÁNH ĐƯỢC NHIỀU LẦN LÀM KHỔ DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

Sau khi hoàn tất một phần sự học ở các nước Âu-Mỹ, nhiều tổ chức quyền thế và giàu có tìm đến thuê mướn với số lương bổng và quyển lợi rất hậu hĩnh . Lúc đó còn trẻ, thấy tiền bạc và danh vọng cũng như địa vị rất hấp dẫn, tôi nhiều lần định nhận lời nhưng rồi lại thôi vì nhớ đến lời dạy của Thầy Hoằng Nhơn: “Trong cuộc đời này con Phải Tri Ân và không được bao giờ làm khổ cho bất cứ một dân tộc hay nước nào từng cho con cơm ăn hay nước uống...”. Tôi đã sinh ra và trưởng thành nơi đất nước Việt Nam, nơi đó tôi đã được cha mẹ nuôi dưỡng, Thầy Tổ dạy dỗ và biết bao nhiêu người yêu thương giúp đỡ tôi, như vậy tôi đừng bao giờ làm bất cứ một việc gì gây đau khổ cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Tinh thần cao thượng, triết lý tri ân nhân nghĩa mà tôi đã được Thầy dạy đi dạy lại rất nhiều lần đã in sâu vào tâm trí, vì vậy tôi đã cương quyết từ chối được những đề nghị lương bổng hấp dẫn gián tiếp hay trực tiếp làm khổ dân tộc và đất nước tôi.

Tôi thường tu tập và cầu nguyện cho những vết thương đó lành hẳn, những hận thù tiêu tan, và tình thương được trở lại với dân tộc và đất nước đầy khổ đau, và tình thương con người được lan toả khắp nơi trên thế giới. Tôi có rất nhiều bạn bè cùng lứa tuổi, nhưng hầu hết bạn tôi đã chết vì cuộc chiến. Những cảnh tượng, những nỗi đau mà tôi đã tận mắt thấy trong thời chiến tranh vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi, vì vậy tôi rất ghê sợ và chán ghét chiến tranh và mong mỏi được đóng góp hoà bình an lạc cho mọi người và mọi chúng sanh trên trái đất này. Một trong những điều tôi vui mừng nhất trong cuộc đời này là góp phần vãn hồi hoà bình cho Nepal.

NHỜ LONG TRI ÂN MÀ TÔI ĐEM ĐƯỢC MẬT PHÁP ĐẾN CHO NHIỀU NGƯỜI ĐAU KHỔ TRỞ NÊN HẠNH PHÚC

Khi biết tôi biết chút ít giáo lý đạo Phật và phương pháp tu tập, các anh chị em học trò cũng như thân hữu các nước có yêu cầu tôi thỉnh thoảng tổ chức những khóa giáo lý và tu tập vào cuối tuần…Tôi vẫn nguyên quyết định không lấy tiền dạy các khóa tu tập, các khóa dạy học về tâm linh. Từ từ các khóa tu tập của tôi được lan rộng ra nhiều hơn, tôi rất vui mừng thấy mình đã giữ được lời hứa với Thầy Tổ. Trong Phật pháp nhiệm màu có 84.000 pháp môn, tôi chỉ họ những pháp môn nào đơn giản mà có ngay hạnh phúc trong đời hiện tại…

NHỜ LÒNG TRI ÂN MÀ TÔI XÂY CẤT ĐƯỢC HAI NGÔI CHÙA MANG TÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM VÀ CÓ CƠ DUYÊN TỐT TÁI THIẾT THÁNH ĐỊA LÂM-TỲ-NI

Tuy không tặng được tiền bạc cho tôi, các học trò đệ tử đã giúp tôi biết bao nhiêu việc tốt trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhất là hỗ trợ tôi rất lớn trong việc xây cất Việt Nam Phật Quốc Tự - Buddha Gaya, ngôi chùa Việt Nam đầu tiên nơi xứ Ấn Độ. Và cảm động nhất là anh chị em đã âm thầm làm việc rất tích cực để vận động nhà vua Nepal Birendra và chánh phủ Nepal vào thời đó mời tôi sang Lâm-Tỳ-Ni (Lumbini) để xây dựng ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Phật giáng trần, vậy là tạo cơ duyên tốt cho tôi làm thêm một ngôi chùa thứ hai khác cùng mang tên Việt Nam, đó là Việt Nam Phật Quốc Tự - Lumbini (Lâm-Tỳ-Ni), ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Phật giáng trần….

Khi tôi đến Nepal, đất nước tươi đẹp hùng vĩ này, mọi người sống trong an lạc, hòa bình, bất chợt không may chiến tranh xảy ra làm trên 14.000 người chết, hàng trăm ngàn người mất nhà mất cửa, nhiều tỷ dollar tài sản tiêu tan vì chiến tranh, dân thường mỗi ngày mỗi nghèo và đau khổ hơn... Nhiều lần, học trò đệ tử yêu cầu tôi rời khỏi xứ này để được an lành hạnh phúc. Nhưng tôi nghĩ rằng khi mình đến Nepal thì xứ này có hòa bình, nay chẳng may có chiến tranh xảy ra, mình nỡ lòng mà bỏ đi? Tôi đã quyết định bằng mọi cách ở lại để tụng kinh, trì chú cầu nguyện và đóng góp được gì cho hòa bình trở lại xứ này thì tôi sẵn sàng làm.

Túp lều của Thầy trong những ngày đầu xây chùa tại Nepal

          Khi những dòng này được chuyển tới quý vị thì tình hình đất nước Nepal đã sáng sủa hơn và có nhiều triển vọng cho hòa bình . Đây là kết quả rất đáng khích lệ cho một quốc gia trải qua tình trạng chiến tranh tàn khốc, đẫm máu, giết chết hàng chục ngàn người dân vô tội. Chiến sự đang đẫm máu và khốc liệt,  bỗng nhiên các phe chịu ngừng bắn, làm các cường quốc trên thế giới và các nước cung cấp vũ khí cho đôi bên rất đỗi ngạc nhiên. Họ không ngờ lại có sự việc như vậy xảy ra - vô cùng đột ngột ngoài dự đoán của mọi người.  Kết quả vô cùng tốt đẹp này do sự vận động, làm việc liên tục trong nhiều năm đầy khó khăn thử thách, trong đó có sự đóng góp tích cực của quý anh chị em thân hữu từ nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là người Việt Nam chúng ta. Tôi trân trọng, thành kính tri ân chư thân hữu, bạn bè các nơi đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong vấn đề này về nhiều phương tiện hòa bình Nepal trong nhiều năm qua. Làm được việc đó một phần là do chúng ta tri ân đất nước này đã sản sinh ra Đức Phật Thích Ca cách đây trên 25 thế kỉ. Phận sự chúng ta tới đây coi như đã làm xong. Phần còn lại các giới lãnh đạo và người dân Nepal phải tự làm lấy, chúng ta không thể nào làm khác hơn vì chúng ta là người ngoại quốc. Thành kính tri ân chư liệt vị, rất mong mỏi được đón tiếp quý vị thăm viếng Lumbini, dừng chân trú ngụ nơi An Việt Nam Phật Quốc Tự Lumbini, Nepal - ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Đức Phật giáng trần và tại An Việt Nam Phật Quốc Tự Bodh Gaya, Ấn Độ nơi Đức Phật thành đạo...

Huyền Diệu

Theo dấu chân hồng hạc - Những điều chưa kể về Thầy Huyền Diệu
Trong những chuyến hành hương đầu năm về đất Phật - Ấn Độ và Nepal, bất kỳ người Việt Nam nào cũng đều dành thời gian ghé thăm An Việt Nam Phật Quốc Tự - ngôi chùa Việt Nam đầu tiên trên đất Phật, ngôi chùa giản dị, ẩn mình giữa màu xanh của thiên nhiên. Một câu chuyện đầu năm, chúng tôi muốn chuyển đến quý vị và các bạn là hành trình không mệt mỏi nhưng cũng đầy nhân duyên để xây dựng 2 ngôi chùa này của Hòa thượng trụ trì, Thầy Huyền Diệu. Thầy cũng là Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo thế giới tại Lumbini - Nepal và có những đóng góp to lớn tại đất nước này. Trân trọng mời quý vị và các bạn theo dõi.
  • Địa chỉ

    P.O. Bouddha Gaya: Gaya District. P.C. Bouddha, Bihar, India
  • Email

    honghacanvui@gmail.com
  • Liên hệ

    +16159381556 -
    Thứ 2 đến Thứ 6 9h sáng - 7h tối
Cuộc đời thầy

Cuộc đời thầy

Nguồn cảm hứng cho thế hệ tiếp theo
Thư viện sách

Thư viện sách

Những cuốn sách Thầy viêt
Mật pháp cho cuộc sống

Mật pháp cho cuộc sống

Những chia sẻ về mật pháp của thầy
Vườn hồng hạc

Vườn hồng hạc

Những video về Hồng Hạc
Hỏi đáp với Thầy

Hỏi đáp với Thầy

Tìm kiếm điểm tựa nơi tâm linh
Sống Đẹp

Sống Đẹp

Câu chuyện của những tấm gương